Tag Archives: social_problems

Học để sống hay để "đầu to mắt cận" ?

[[

idoclo: có khi nào bạn tự hỏi mình học để làm gì, mình có thể làm được những gì sau khi học xong phổ thông, sau khi học xong Đại học, bạn có thể bươn chải giữa dòng đời tấp nập với những cái mà mình đã được học hay không ? Có xa xôi lắm không, liệu có phải là một dấu hỏi lớn không ?...

Bạn nghĩ rằng bạn thiếu những cái gì, ra đời, đời sẽ làm bạn thay đổi hay bạn sẽ tự thay đổi mình một cách tốt nhất để sống với đời, với người ... ?

Bài viết dưới trong Tuanvietnam của báo Vietnamnet, mình thấy hay nên copy qua đây, mọi người nếu rảnh chút thì cũng có thể đọc hen ^_^ Riêng mình thì thấy bài viết hay...

]]

Kiến thức phổ thông đủ để… sống

Ngày 13 tháng 6 năm 2006 tại Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xảy ra tai nạn rất thương tâm, cùng lúc 8 em học sinh lớp 9 bị chết đuối, lý do là các em đều không biết bơi.

Đi học đã 9 năm ở vùng nông thôn, sông nước mà không biết bơi, lỗi này phải thuộc về ngành giáo dục. Nếu được dạy đúng phương pháp, mỗi ngày 1 giờ, sau 2 tuần một người bình thường đã có thể biết bơi.

Môn bơi chính là kiến thức phổ thông, là một kỹ năng sống rất cần có trong chương trình dạy phổ thông sắp tới.

Con gái tôi năm nay vào lớp 11, không thể tự tay làm một mâm cơm đãi khách. Gần đây nhiều bạn trai cũng than phiền về người yêu, bạn gái của mình đã tốt nghiệp đại học mà không biết nấu nướng, may vá, giặt là quần áo. Trong giao tiếp, ứng xử thì vụng về, gây khó chịu, mất lòng mọi người.

Nhiều cặp vợ chồng trẻ kết hôn với nhau thời gian ngắn đã lục đục, tỷ lệ ly hôn ngày càng tăng. Lý do là việc nữ công gia chánh, môn tâm lý giao tiếp, ứng xử không được quan tâm trong chương trình phổ thông hiện nay.

Lẽ ra, các kiến thức liên quan đến “công, dung, ngôn, hạnh” và đặc biệt là “đắc nhân tâm-nghệ thuật ứng xử” phải rất được coi trọng trong chương trình phổ thông.

Các em học sinh phổ thông trung học, nam cũng như nữ sau này cho dù có thể làm các nghề khác nhau, trình độ, suy nghĩ, hoàn cảnh, số phận khác nhau… nhưng đều giống nhau ở chỗ “trai lớn lấy vợ”, “gái lớn gả chồng” tức là đều sẽ lập gia đình với các vấn đề về ăn hỏi, cưới xin, làm chồng, làm vợ với các quan hệ gia đình nội, ngoại, lễ, tết, ma chay…

Vì vậy trong chương trình phổ thông rất cần những kiến thức về “đặc điểm của phái nam”, “tâm lý bạn gái”, “sức khỏe sinh sản”, về gia đình và phong tục, tập quán của người Việt nam. Đây chính là kiến thức phổ thông mà ai cũng nên biết.

Với các em nam những kiến thức như lắp đặt, sửa chữa hệ thống các thiết bị điện trong gia đình, các bài thực hành về máy bơm nước, máy công nông, giếng khoan, hệ thống lọc nước… Các loại vật liệu xây dựng, cách thiết kế xây nhà đơn giản, trang trí nội ngoại thất cho ngôi nhà. Sử dụng, sửa chữa thông thường xe đạp, xe máy, tivi, tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ…

Những điều đó sẽ dễ dàng và hữu ích hơn rất nhiều so với việc đau đầu, dồn sức giải các bài toán về hạt nhân nguyên tử, vận tải điện đi xa, các dạng mạch vòng, mạch thẳng của hóa hữu cơ hay các đường cong parabol, hypecbol…các hàm số tích phân với đủ các loại biến số chạy từ không đến… vô cùng như hiện nay.

Những kiến thức đó chỉ dành cho các sinh viên đại học, các kỹ sư, các nhà khoa học, nghiên cứu sinh… không phù hợp với học sinh phổ thông.

Học một kỉ luật sống

Sau khi rời khỏi quân đội, điều để lại trong tôi không phải là các kỹ thuật điều khiển tên lửa mà là việc hàng ngày phải gấp chăn, màn, vuông thành khối chữ nhật, để đúng giữa phía trên đầu giường. Mũ sắt treo vừa tầm với trên tường. Dày, dép để thành đôi phía cuối giường, mũi dày dép quay ra phía ngoài để choàng dậy khi báo động có thể đi ngay vào chân kể cả trong đêm tối. Khăn mặt khi phơi phải thẳng, mép khăn phải bằng, dây dày phải lồng và buộc cho đúng…

Tất cả những điều này tạo nên thói quen cẩn thận, ngăn nắp, gọn gàng, khoa học và thẩm mỹ, những điều này rất có ích cho tôi trong cuộc sống, làm việc sau này. Thật sự chỉ khi vào quân đội tôi mới được dạy và học những thứ đơn giản như vậy. Tôi luôn nghĩ tại sao không có môn dạy những thứ đó trong trường phổ thông?

Những luật liên quan đến đời sống hàng ngày của mọi người như luật nhà ở, đất đai, luật hôn nhân, gia đình, luật giao thông, luật dân sự… cũng cần được chọn lọc để phổ biến cho các em. Học môn văn thì phải thành thạo việc viết đơn từ, lập hợp đồng mua bán hàng hóa, nhà đất… Đó chính là kiến thức phổ thông, công dân nào cũng cần biết.

Học cách khắc phục những nhược điểm của người Việt

Gần đây khi hội nhập với các nước khác trên thế giới, người Việt Nam ta bên cạnh những ưu điểm như cần cù, ham học, chịu khó, chịu khổ, thông minh… cũng bộc lộ rất nhiều những nhược điểm thuộc dạng “bẩm sinh” như mất đoàn kết, tầm nhìn hạn hẹp, vô tổ chức, kỷ luật… ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người Việt cũng như uy tín của đất nước.

Vì vậy môn học về “ưu, nhược điểm của người Việt Nam ta” cũng như “hội nhập quốc tế”, “Du lịch, du học” và các môn như “Tiếng Anh thông dụng”, “ Sử dụng máy tính và Internet”, “ Văn minh, lịch sự, khôn ngoan” là những môn nên đưa vào chương trình phổ thông .

Trước đây Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, hay dùng những câu như “non sông, gấm vóc” hay “rừng vàng, biển bạc” để nói về nước Việt Nam là rất chính xác, chỉ có điều con người Việt Nam chưa biết tận dụng để khai thác những thế mạnh mà thiên nhiên đã ban tặng thôi.

Vì thế, các em cần được học về “ tiềm năng đất nước, con người”. Trong đó chỉ ra những thế mạnh, biết cách phát huy, khai thác những tiềm năng về con người, về thiên nhiên, về gia đình, địa phương, đất nước, truyền thống… để phục vụ cho cuộc sống, cho gia đình, địa phương và đất nước mình.

Điều đó cũng cho các em biết các nước khác trên thế giới đã tận dụng, khai thác triệt để những thế mạnh của họ để thành công trên các lĩnh vực của cuộc sống như thế nào.

Ng

GS Hoàng Tụy: Nhìn thẳng vào khủng hoảng giáo dục Việt Nam

Một bài viết của giáo sư Hoàng Tụy mà idoclo đọc thấy cực hay, nếu bạn có chút thời gian thì hãy đọc hết bài này, còn ko thì hãy lướt qua những chỗ mình đã tô sáng.

bảo thủ đến đâu, Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng như bất cứ ai đều không thể làm ngơ trước nhiều vấn nạn giáo dục đã và đang làm đau đầu cả xã hội. Chỉ có nhìn thẳng, gọi tên đúng sự vật và chấp nhận thay đổi, coi cải cách là mệnh lệnh của cuộc sống mới có thể khắc phục tình trạng nguy kịch của ngành GD Việt Nam.

1. Nhìn lại một chặng đường giáo dục

Mặc dù tín hiệu báo động đỏ đã phát ra từ lâu, và nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt khi từ nhiệm đã thừa nhận chính thức sự không thành công của giáo dục. Đến nay thực trạng nghiêm trọng của giáo dục VN vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Nhiều người có trách nhiệm vẫn tự ru ngủ mình với những thành tựu to lớn, thực và ảo, của giáo dục.
GS Hoàng Tuỵ

Đương nhiên, nếu cô lập VN với thế giới thì không đến nỗi quá lo lắng. Song nếu đặt giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhìn tình hình một cách khách quan và có trách nhiệm, thì không thể nhắm mắt trước sự tụt hậu ngày càng xa của giáo dục VN so với các nước xung quanh, và so với yêu cầu phát triển của xã hội.

Thực tế, đất nước nghìn năm văn hiến này đang trả giá nặng nề cho sự suy thoái trầm trọng của giáo dục kéo dài suốt ba mươi năm qua.

Giáo dục là một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu, cấu trúc, tổ chức (bao gồm các phần tử và các hệ thống con), phương thức vận hành và hiệu quả hoạt động. Nếu mỗi yếu tố ấy đều có quá nhiều trục trặc nghiêm trọng kéo dài hàng thập kỷ mà không khắc phục được, khiến mọi sự điều chỉnh cục bộ theo cơ chế phản hồi đều không cứu vãn nổi, thì tình trạng ấy phải được xem là sự khủng hoảng toàn diện.

Những dấu hiệu…

Nhìn lại hệ thống giáo dục VN, những dấu hiệu khủng hoảng đã lộ rõ từ lâu và ngày càng đậm nét.

Từ chỗ trước đây dù sao cũng là sự nghiệp toàn dân, là “bông hoa của chế độ”, nay giáo dục đã dần dần mất phương hướng, không còn rõ giáo dục cho ai, vì ai, để làm gì.

Trách nhiệm của Nhà nước đối với giáo dục có nguy cơ sút giảm để dần dần nhường chỗ cho quan niệm tư nhân hóa cực đoan, phủ nhận giáo dục với tư cách lợi ích công hòng biến nó thành một thứ hàng hóa thuần túy, thuận mua vừa bán theo cung cầu của một thứ thị trường vô tâm.

Giữa mục tiêu lý thuyết và thực tiễn thực hiện tồn tại khoảng cách ngày càng gia tăng, có nguy cơ đẩy giáo dục xa rời lý tưởng công bằng, dân chủ, văn minh mà xã hội đang hướng tới.

Cơ cấu tổ chức và hoạt động giáo dục mất cân đối, rối loạn trầm trọng giữa giáo dục phổ thông, dạy nghề, cao đẳng, đại học, giữa trường tư, trường công, giữa chuyên tu, tại chức, đào tạo liên kết, v.v…. tất cả làm thành một hệ thống tạp nham, rối ren không đồng bộ, thiếu nhất quán, hoạt động phân tán, rời rạc, mà mỗi đơn vị tuân theo lợi ích cục bộ, thiển cận, nhiều hơn là quan tâm đến lợi ích cơ bản và lâu dài của cộng đồng (gần đây nhất, giữa lúc Chính Phủ kêu gọi mọi ngành ngăn cơn bão giá thì ngành giáo dục tăng giá sách giáo khoa 10%).

Nội dung và phương pháp giáo dục thể hiện xu hướng hư học cổ lỗ, dành nhiều thời gian học những kiến thức lạc hậu vô bổ (sau nhiều lần bàn cãi cũng chỉ mới giảm được thời lượng bắt buộc).

Mặt khác lại quá thực dụng thiển cận, thiên về triết lý mì ăn liền mà coi nhẹ những vấn đề có ý nghĩa cơ bản suốt đời cho mỗi người như: hình thành nhân cách, rèn luyện năng lực tư duy, khả năng cảm thụ.

Coi nhẹ kỹ năng lao động, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, đức tính trung thực, năng lực sáng tạo, trí tưởng tượng, là những đức tính thời nào cũng cần nhưng đặc biệt thời nay càng cần hơn bao giờ hết.
Bằng cách đặt nặng quá mức bằng cấp và thi cử, nhà trường đã vô tình tuôn ra xã hội mọi thứ rác rưởi độc hại: bằng giả, bằng dỏm, học giả, v.v.

Chất lượng giáo dục sa sút một thời gian dài, nhất là ở đại học, cao đẳng và dạy nghề, khiến nhân lực đào tạo ra còn rất xa mới đáp ứng được đòi hỏi thực tế về cả chất lượng và số lượng, do đó đang trở thành nhân tố cản trở nghiêm trọng sự phát triển kinh tế.

Dân trí thấp – hệ quả tất nhiên của giáo dục yếu kém — tác động tiêu cực đến môi trường, sức khỏe cộng đồng, an toàn giao thông, và hàng loạt vấn nạn khác.

Thêm vào đó, chất lượng giáo dục quá thấp là nguyên nhân quan trọng gây ra nạn chảy máu chất xám đang làm xã hội mất đi những nguồn lực trí tuệ quý giá.

Trong khi chất lượng giáo dục sa sút thì chi phí giáo dục tăng liên tục, trở thành gánh nặng phi lý không chỉ cho ngân sách quốc gia, mà còn cho mọi gia đình vì phần đóng góp trực tiếp của dân ngoài thuế lên đến hơn 40% tổng chi phí giáo dục.

Tuy nhiên, còn may là vượt lên trên tình hình chung không mấy sáng sủa đó vẫn có những điểm sáng nhất định (lác đác trong từng cấp học đều có những đơn vị khá thành công), chứng tỏ tiềm năng phát triển giáo dục ở đất nước này còn nhiều.

Hai năm gần đây đã có một số chuyển biến tích cực nhưng vì chưa động tới các vấn đề cốt lõi – nơi sức ỳ đã bám rễ trong nhiều năm – nên chưa tạo đủ xung lực cho một cuộc lột xác của giáo dục hiện đang là đòi hỏi cấp bách của xã hội.

2. Đi tìm nguyên nhân

Điều gì đã khiến nền giáo dục của một đất nước vốn có truyền thống hiếu học lâu đời rơi vào suy thoái trầm trọng vào đúng thời điểm mà lẽ ra nó phải là bệ phóng cho kinh tế cất cánh?

Hoàn toàn không phải do nghèo, vì công sức, tiền của lãng phí, thât thoát hàng năm vô cùng lớn. Nguyê
n nhân
phải thẳng thắn nhìn nhận là do quản lý, lãnh đạo dưới tầm
.

Từ quan niệm, tư duy cơ bản (triết lý giáo dục, theo cách nói gần đây) cho đến thiết kế hệ thống và quản lý, điều hành, mọi khâu đều có những bất cập, sai lầm nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hệ thống.

Quan niệm, tư duy về giáo dục xơ cứng, cũ kỹ

Cái gốc của phần lớn sai lầm ấy là quan niệm, tư duy xơ cứng về giáo dục, quá cũ kỹ mà qua hai thập kỷ hầu như không thay đổi. Vẫn cách suy nghĩ thiển cận, vẫn những quan điểm giáo điều thời bao cấp, được biến tấu ít nhiều để thích nghi với những xu hướng phiêu lưu du nhập từ bên ngoài phù hợp với từng nhóm lợi ich chi phối các hoạt động giáo dục.

Mọi người đều biết thời nào, chế độ nào thì một nền giáo dục chân chính cũng có sứ mạng cao cả giống nhau về giáo dục con người. Đồng thời trên cái nền chung đó mỗi thời, mỗi xã hội đặt những nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể khác nhau cho giáo dục. Không thấy hai mặt đó mà chỉ thiên một mặt này hay mặt kia, thậm chí để hai mặt đó xung đột, sẽ dẫn đến một nền giáo dục hoặc thoát ly thực tế hoặc thực dụng thiển cận, hoặc vừa có cả hai tính chất đó.

Chẳng hạn, thời nào thì con người sống trong xã hội lành mạnh cũng cần trung thực, và muốn đóng góp vào sự phát triển của xã hội cũng phải ít nhiều có đầu óc sáng tạo, nhưng chưa bao giờ hai đức tính đó thiết yếu như bây giờ trong thế giới toàn cầu hóa và kinh tế tri thức.

Điều đó tiếc thay đã không được chú ý trong suốt quá trình xây dựng giáo dục ở VN. Trong khi xã hội và môi trường quốc tế đã biến đổi cực kỳ sâu sắc mà từ mẫu giáo đến đại học, nhà trường vẫn dựa vào kinh nghiệm giáo dục tư tưởng chính trị thời đấu tranh giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội để rèn luyện nhân cách, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, thì với sự vênh đó giữa lý thuyết và đời sống, cộng thêm sự xuống cấp nhanh đạo đức xã hội, làm sao có thể giáo dục trung thực và sáng tạo có hiệu quả?

Đó là nguyên nhân sâu xa khiến sự giả dối và nạn giáo điều lan tràn, từ tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tich, bệnh thi đua hình thức, cho đến nạn sao chép, dạy mẫu, học thuộc lòng, cứ tồn tại dai dẳng bất chấp sự lên án của dư luận xã hội.

Cần phải bình đẳng về cơ hội học tập thành công

Gần đây, những cuộc tranh cãi xung quanh đề án tăng học phí, nạn học sinh bỏ học, ngồi nhầm lớp, v.v. cho thấy rõ một nguyên nhân căn bản của nhiều vấn nạn ấy là do nhận thức về công bằng, dân chủ trong giáo dục còn quá hời hợt và thô sơ. Chỉ mới chú ý yêu cầu sơ đẳng bảo đảm quyền học tập (nói chính xác là quyền bình đẳng về cơ hội học tập), mà ngay việc này cũng chưa được hiểu đúng và làm tốt.

đâu là nguyên nhân cho sự lạc hậu của GD Việt Nam?

Trong khi đó, với chế độ học tập như hiện nay, buộc học sinh phải học thêm ngoài giờ rất nhiều (kể cả làm bài tập ở nhà và học thêm ngoài giờ có trả học phí), thì con em các gia đình nghèo làm sao có được cơ hội học tập thành công bình đẳng với con em các gia đình khá giả.

Cho nên được đi học mới chỉ là bình đẳng một phần. Bình đẳng về cơ hội học tập không thôi chưa đủ mà phải bình đẳng về cơ hội học tập thành công. Không phải không có lý do mà ở nhiều nước, để bảo đảm công bằng về cơ hội thành công trong học tập, để giúp con em nhà nghèo không bỏ học giữa chừng, học sinh tiểu học và trung học không phải làm bài tập ở nhà mà đều làm hết ở trường, trong những giờ tự học có thầy giám sát.

Ở các nước ấy cũng không có chuyện phải học thêm ngoài giờ ở lớp và không có học sinh phải bỏ học chỉ vì chương trình nặng, học không nổi hay sách giáo khoa quá đắt, không có tiền mua. Vì vậy hiện tượng học sinh bỏ học nhiều cần được nhìn nhận là dấu hiệu đáng lo ngại của một nền giáo dục thiếu công bằng.

Vào những năm 80 thế kỷ trước, khi kinh tế bế tắc, hệ thống giáo duc cũ gần như tan rã. Sai lầm cơ bản khi ấy là đã không xuất phát từ gốc để cải tạo hệ thống giáo dục mà chỉ cải sửa tùy tiện từng phần của nó trong khi vẫn khư khư giữ nền móng tư duy lạc hậu cũ. Rốt cuộc đã đẻ ra một hệ thông giáo dục dị dạng, đầu Ngô mình Sở, thường xuyên gặp khó khăn, đòi hỏi phải liên tục cải sửa, song càng sửa càng rối, càng bất cập.

Như trên đã nói, khủng hoảng giáo dục là từ bên trong, tức là chủ yếu do hậu quả của hàng loạt sai hệ thống. Trong đó đáng nêu nhất có một số sai căn bản như sau.

Sai đầu tiên tai hại nhất là về chính sách đối với người thầy

Xuất phát từ quan niệm lệch lạc về sứ mạng và vai trò người thầy trong nền giáo dục hiện đại. Phản ứng lại tư duy lạc hậu trong nhà trường cũ, gán cho thầy quyền uy tuyệt đối theo quan niệm “không thầy đố mầy làm nên”, biến giáo dục thành quá trình truyền đạt và tiếp thu hoàn toàn thụ động, đã xuất hiện tư duy cực đoan ngược lại, phủ nhận vai trò then chốt của thầy đối với chất lượng giáo dục.

Với cách hiểu giáo dục thô sơ nặng về cảm tính, khi thì nhấn mạnh một chiều “học sinh là trung tâm”, khi khác tôn chương trình, sách giáo khoa lên địa vị “linh hồn giáo dục”, nhận định chất lượng đại học thấp “không phải do thầy mà do chương trình”, v.v. dẫn đến hoàn toàn xem thường việc xây dựng đội ngũ thầy giáo theo chuẩn mực giáo dục hiện đại. Trong mọi khâu từ tuyển chọn đến sử dụng và bồi dưỡng người thầy, khâu nào cũng phạm sai lầm lớn. Đặc biệt tệ hại là chính sách lương.

Ngay từ đầu đã bỏ qua kinh nghiệm muôn thuở “có thực mới vực được đạo”, trả lương cho thầy cô giáo dưới mức sống hợp lý, lấy cớ ngân sách eo hẹp (thật ra chỉ là sử dụng ngân sách không hợp lý), bỏ mặc các thầy cô “tự cứu” kiếm thêm thu nhập bằng mọi cách (dạy thêm, làm thêm, đến nỗi không hi]]
>

Tự hào lắm 2 tiếng Việt Nam

Tags: social_problems | Edit Tags

Saturday September 1, 2007 – 02:00pm (ICT) Edit | Delete

I believe – Tata Young – bài hát chính thức cho ASIAN cup 2007

Hổng biết sao đội tuyển nhà mình ở cup này lên chân quá, bữa ni vui vui, up bài hát chính thức lên cho bà con nghe chơi
Bà con ai muốn download thì dô đây, có 2 file WMV và mp3.
Địa chỉ download

CÁC BẠN ƠI HÃY CÙNG NHAU ĐỒNG CA VÌ CÔNG LÝ – CHIA SẺ NỖI ĐAU CÁC NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC MÀU DA CAM

/embed>

(3) Một bài báo cực hay, nhưng chắc 1 điều là hiếm ai đọc hết :((

Triết lý phát triển: Vai trò tiên phong của hệ thống

Viễn cảnh phát triển của một quốc gia tùy thuộc rất lớn vào tầm vóc và chất lượng của hệ thống quản lý. Nếu tầm vóc của hệ thống đã bị tuột xuống dưới ngưỡng xung yếu đó, thì cho dù xoay xở thế nào, các căn bệnh của hệ thống sẽ mỗi ngày một trầm kha và không thể nào chữa trị bằng những liệu pháp thông thường (bệnh càng chữa, càng nặng). Khi đó, hệ thống chỉ còn phương cách duy nhất là đột phá để nâng tầm vóc của mình vượt lên trên ngưỡng xung yếu trong động thái vận động của mình.

Phần cuối cùng trong loạt bài viết về triết lý phát triển, Tiến sĩ Vũ Minh Khương lý giải về những đột phá cần phải có trong hệ thống.

Thực thi dân chủ để huy động sức mạnh tổng lực của dân tộc


images1282281_vn.jpg

Công cuộc đổi mới của nước ta chỉ ra những bài học quan trọng về giải phóng và phát huy nguồn lực xã hội.

Từ việc giải phóng sự kiểm soát về quá trình sản xuất, chúng ta đã tạo bước nhảy vọt trong gia tăng sản lượng hàng hóa. Từ đó nước ta thoát được cảnh thiếu đói, nghèo nàn để chuyển sang đủ ăn.

Từ việc tự do hóa việc thiết lập công ty và chuyển dịch tư liệu sản xuất, chúng ta đã tạo nên sự bùng phát của khu vực kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài. Từ đó, nước ta đang có những chuyển biến thuận lợi để chuyển được từ tình trạng đủ ăn sang tình trạng khấm khá.

Giờ đây, dân chủ hóa là bước đi quan trọng và hợp lý tiếp theo để nước ta chuyển được từ khấm khá lên phồn vinh. Dân chủ hóa sẽ giúp nước ta thoát khỏi tình trạng khan hiếm người tài năng, trung thực, và tâm huyết và tạo nên những động lực tiềm tàng để người dân sát vai nhau phấn đấu trong một ý thức công dân sâu sắc vì tương lai tốt đẹp của bản thân và đất nước.

Dân chủ hóa cũng tạo môi trường phấn khích cho sáng tạo và thử nghiệm táo bạo, một động lực quan trọng cho mọi kỳ tích phát triển. Dân chủ hóa sẽ cho phép thử nghiệm hình thành một số thành phố có đẳng cấp quốc tế theo các định hướng sau:

+ Thị trưởng của thành phố sẽ do người dân trực tiếp bầu ra. Bộ máy sẽ được tuyển chọn trên các tiêu chí chủ đạo là tài năng, tính trung trực, và lòng tâm huyết. Cơ chế trả lương sẽ do thành phố tự cân đối quyết định để đảm bảo một chính quyền ưu tú, tận tâm, và tuyệt đối trong sạch.

+ Thành phố sẽ được xây dựng theo đẳng cấp hàng đầu quốc tế về quy hoạch, giao thông công cộng, cây xanh, bảo vệ môi trường, nhà ở, bệnh viện, trường học, tiện ích văn hóa – thể thao.

+ Thành phố áp dụng mô hình giáo dục hiện đại (trong đó, Singapore là một kinh nghiệm quý) để đào tạo thế hệ trẻ trở thành công dân có tầm vóc toàn cầu.

+ Thành phố sẽ là cái nôi ra đời của các đại học đẳng cấp quốc tế và các công ty có tầm vóc quốc tế của Việt Nam.

+ Thành phố sẽ là tâm điểm khơi dậy sức mạnh cốt lõi của dân tộc và thu hút trí tuệ, kinh nghiệm, và nguồn lực toàn cầu…

Vai trò hệ thống quản lý

Viễn cảnh phát triển của một quốc gia tùy thuộc rất lớn vào tầm vóc và chất lượng của hệ thống quản lý.

Chất lượng của hệ thống quản lý được đánh giá chủ yếu trên các dịch vụ công chủ yếu mà hệ thống phải cung cấp; đó là giáo dục, y tế – sức khỏe, giao thông – qui hoạch đô thị, thủ tục hành chính, an ninh – trật tự, và bảo vệ các chuẩn mực đạo đức xã hội.

Mặc dù chúng ta đã đạt được những thành quả đáng trân trọng trong quá trình đổi mới vừa qua, tầm vóc và chất lượng hoạt động của hệ thống quản lý ngày càng bộc lộ rõ sự bất cập.

Theo mô hình phát triển động, mỗi hệ thống có một cái ngưỡng về tầm vóc mà nếu vượt qua đó, hệ thống dù còn nhiều khuyết tật yếu điểm, nhưng với nỗ lực phát triển, nó sẽ mỗi ngày một hoàn thiện để đáp ứng ngày càng tốt hơn đòi hỏi của thực tiễn khách quan.

Thế nhưng, nếu tầm vóc của hệ thống đã bị tuột xuống dưới ngưỡng xung yếu đó, thì cho dù xoay xở thế nào, các căn bệnh của hệ thống sẽ mỗi ngày một trầm kha và không thể nào chữa trị bằng những liệu pháp thông thường (bệnh càng chữa, càng nặng). Khi đó, hệ thống chỉ còn phương cách duy nhất là đột phá để nâng tầm vóc của mình vượt lên trên ngưỡng xung yếu trong động thái vận động của mình.

Nỗ lực đột phá của một hệ thống, trước hết cần chú trọng vào ba khâu then chốt có mối quan hệ mật thiết với nhau; đó là Tầm nhìn, Khả năng học hỏi, và Cơ chế tuyển chọn – đề bạt cán bộ.

Về tầm nhìn

Hệ thống phải thấu hiểu quy luật vận động của xã hội và xu thế phát triển của thế giới để có được tầm nhìn sáng rõ cho tương lai của dân tộc. Trong nỗ lực này, ba nguy cơ cần tuyệt đối tránh là: tự trói mình vào quá khứ hoặc lợi ích cá nhân; phiến diện thiếu khoa học trong phân tích xu thế phát triển của thế giới; và mặc cảm về vị thế hiện tại để rồi làm tắt đi khát vọng vươn lên vị thế xứng đáng của dân tộc trong cộng đồng thế giới.

ace="Arial"
size="2">Về khả năng học hỏi

Hệ thống cần gia cường khả năng học hỏi theo hai mô thức chính. Mô thức thứ nhất đòi hỏi sự nhạy bén tiếp thu cái mới, cái hay, và khả năng chắt lọc tinh hoa tri thức của nhân loại. Mô thức này đòi hỏi cán bộ phải có tài và có quyết tâm. Mô thức thứ hai đòi hỏi khả năng học từ sai lầm, thất bại. Đó là khả năng phân tích và thấu hiểu căn nguyên của những sai lầm trước đây để rồi tránh mắc phải những sai lầm trong hiện tại và tương lai. Chẳng hạn, Hàn Quốc khi kỷ niệm ngày độc lập thường xoáy vào phân tích những nguyên nhân mất nước hơn là tranh thủ phô trương các thành tựu phát triển.

Về cơ chế tuyển chọn, đề bạt, đánh giá và đãi ngộ cán bộ

Cũng như các nước Đông Á khác, Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa “cảm nhận xấu hổ” (shame culture). Theo đó người dân hành động dựa trên sự phán xét của xã hội về mình hơn là dựa trên suy xét của cá nhân là điều ấy đúng hay sai về luật pháp hay đạo đức. Vì vậy, cách hành xử của người dân chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi cách hành xử của giới quan chức, trí thức, và giáo viên, là những tầng lớp mà người dân thường coi là chuẩn mực cho những hành vi của xã hội.

Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore (và Trung Quốc gần đây) trong công cuộc phát triển của mình đã hết sức chú trọng xây dựng một đội ngũ công chức ưu tú về tài năng và phẩm chất; và điều này đã mang lại những tác động to lớn không chỉ tới nhịp độ tăng trưởng kinh tế mà cả nền tảng đạo lý của xã hội.

Ở Việt Nam, tài năng và phẩm chất trong thời gian qua chưa thực sự trở thành tiêu chuẩn tối thượng trong tuyển dụng, đánh giá, và đề bạt cán bộ. Hệ quả là, đội ngũ này không chỉ chưa đáp ứng được đòi hỏi của xã hội mà còn là nơi phát sinh ra lối sống bê tha và những hành vi gian dối, tham nhũng. Do vậy, người dân hiện không còn bị tiết chế bởi cảm nhận xấu hổ khi bị lôi cuốn vào các hành vi gian dối, chạy chọt, cờ bạc, chơi bời.

Do đó, xây dựng một đội ngũ công bộc ưu tú thông qua cơ chế tuyển chọn, đề bạt, đánh giá và đãi ngộ cán bộ thực sự dân chủ và khoa học cần là bước đột phá quan trọng trong nỗ lực cải cách.

Thay lời kết

Khi khảo cứu lịch sử phát triển của các dân tộc trên thế giới thường, các nhà nghiên cứu tìm thấy sự kinh ngạc ở một trong hai thái cực.thái cực thứ nhất, người ta kinh ngạc trước những cố gắng phi thường mà một dân tộc có thể làm được khi họ thấu hiểu và dũng cảm chấp nhận những thách thức nghiệt ngã, biến chúng thành cơ hội để làm nên kỳ tích phát triển; Ở thái cực thứ hai, người ta thấy kinh ngạc về sự luẩn quẩn trong tư duy và sự tầm thường trong hành động mà một dân tộc, dù có quá khứ vinh quang, có thể có khi họ lẩn tránh những thách thức khắc nghiệt của đổi thay và bỏ qua những cơ hội vô giá cho phát triển.

Nước Việt Nam ta sẽ ở vào thái cực nào của sự kinh ngạc trong những thập kỷ tới đây?

Người Việt Nam liệu còn khắc ghi trong tâm can của mình nỗi trăn trở, xót xa về vị thế dân tộc “ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa” của Trần Hưng Đạo và ý chí hào hùng “Như nước Đại Việt ta từ trước / Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,[...] Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau / Song hào kiệt thời nào cũng có” của Nguyễn Trãi?

Hàng triệu người Việt Nam đã ngã xuống vì khát vọng độc lập tự do và tương lai phồn vinh của dân tộc liệu có cảm thấy yên lòng với những gì chúng ta đang làm hôm nay?

Người Việt Nam năm 2045 sẽ được hãnh diện về lòng quả cảm và những nỗ lực phi thường mà thế hệ hôm nay sẽ xiết chặt hàng ngũ để làm nên một nước Việt Nam hùng cường hay họ sẽ phải hổ thẹn, tủi nhục về vị thế yếu hèn của dân tộc trong cộng đồng thế giới và xót xa nuối tiếc về những cơ hội vô giá mà thế hệ cha anh họ đã bỏ qua?

Lịch sử đang chờ đợi câu trả lời của thế hệ chúng ta!

(2) Một bài báo cực hay, nhưng chắc 1 điều là hiếm ai đọc hết :((

Đi tìm Triết lý Phát triển cho Việt Nam

Trong khuôn khổ có hạn, bài viết này đề cập đến bốn nội dung của triết lý phát triển mà chúng ta cần có đột phá trong nhận thức. Bốn nội dung đó là (1) Các yếu tố nền tảng của phát triển; (2) Thế mạnh cốt lõi và điểm yếu dễ tổn thương của dân tộc; (3) Sức mạnh của Dân chủ; và (4) Vai trò tiên phong của Hệ thống.

Các yếu tố nền tảng của phát triển

Với kỳ vọng đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hóa và tốc độ tăng trưởng, chúng ta đã đầu tư rất lớn vào các dự án công nghiệp thiếu sức sống như xi măng, mía-đường, dầu khí, đóng tàu; trong khi xem nhẹ những yếu tố nền tảng, cực kỳ quan trọng không chỉ cho tăng trưởng hiện tại, mà cả phát triển trong tương lai.

Lý thuyết tăng trưởng trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phát triển toàn cầu chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng GDP của một quốc gia quyết định chủ yếu bởi mức thu nhập bình quân đầu người hiện tại, các yếu tố khách quan, và các yếu tố nền tảng (1).

Mức thu nhập bình quân đầu người có tác động âm tới tốc độ tăng trưởng; nghĩa là, khi mức thu nhập cao lên thì tốc độ tăng trưởng có xu hướng thấp xuống. Nói một cách khác đi, nếu hai nước có điều kiện khách quan và nền tảng gần giống nhau, nước nghèo hơn thường có tốc độ tăng trưởng cao hơn (tổng kết này thường được gọi là qui luật hội tụ có điều kiện).

Các yếu tố khách quan liên quan tới tiến bộ về khoa học công nghệ, toàn cầu hóa, thiên tai-dịch bệnh, biến động của giá dầu và tăng trưởng của các nền kinh tế lớn.

Các yếu tố nền tảng gắn với nguồn vốn con người (trình độ học vấn, sức khỏe, ý chí vươn lên, tính sáng tạo); thiết chế vĩ mô (ổn định chính trị, hệ thống luật pháp, chất lượng của bộ máy quản lý nhà nước…); và hạ tầng cơ sở (hệ thống giao thông, cung ứng điện-nước, dịch vụ tài chính ngân hàng).

Tăng trưởng khá cao của nước ta trong thời kỳ đổi mới bắt nguồn từ cả ba nhóm yếu tố. Thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người của nước ta ở vào mức rất thấp; so với mức thu nhập bình quân đầu người của nước ta năm 2005, Indonesia và Phillipines hơn ta 2 lần, Trung Quốc: 2,7 lần, Thái Lan: 4,4 lần; Hàn Quốc: 26 lần; Nhật Bản: 56 lần). Thứ hai, bối cảnh khách quan cho phát triển của nước ta rất thuận lợi, đặc biệt là tốc độ phát triển bùng nổ của nền kinh tế Trung Quốc, công nghệ thông tin, và toàn cầu hóa. Thứ ba, là các yếu tố nền tảng. So với các nước nghèo, chúng ta có nguồn nhân lực vượt trội hơn hẳn về giáo dục và tính năng động; về thiết chế vĩ mô, chúng ta đã có bước tiến lớn về cải cách hệ thống luật pháp và cơ chế quản lý kinh tế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài hoạt động ngày càng thuận lợi. Về hạ tầng cơ sở, chúng ta đã có những những bước tiến vượt bậc.

Thế nhưng, một câu hỏi cần đặt ra là “tại sao tăng trưởng của chúng ta thấp hơn hẳn Trung Quốc trong suốt hai mươi năm qua?

Nguyên nhân không thể là yếu tố mức thu nhập đầu người vì chúng ta ở mức thấp hơn Trung Quốc; và do đó lẽ ra chúng ta phải tăng trưởng cao hơn qui luật hội tụ (theo ước tính của tác giả, yếu tố này cho phép Việt Nam tăng cao hơn Trung Quốc khoảng 1%).

Nguyên nhân cũng không thể là các yếu tố khách quan, vì điều kiện khách quan cho phát triển của cả hai nước cơ bản giống nhau, nếu không nói là Việt Nam có phần thuận lợi hơn. Chẳng hạn, mức viện trợ quốc tế tính trên bình quân đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 1990-2004 cao gấp hơn sáu lần so với Trung Quốc.

Như vậy, nguyên nhân rõ ràng nằm ở các yếu tố nền tảng. Dưới đây chỉ xin nêu ra mấy ví dụ về sự thua kém của chúng ta so với Trung Quốc trên một số thước đo có liên quan tới việc chăm lo phát triển nguồn lực con người và chất lượng của thiết chế vĩ mô.

Về chăm lo phát triển nguồn lực

Trước hết, hệ thống giáo dục của Trung Quốc có những tiến bộ hơn hẳn Việt Nam, thể hiện ở một số điểm nổi bật sau:

+ Tỷ lệ học sinh độ tuổi 15-24 mù chữ giảm từ 4,5% năm 1990 xuống 1% năm 2004 trong khi tỷ lệ này của Việt Nam tăng từ 5,5% lên 6% (2).

+ Hệ thống giáo dục đại học của Trung Quốc đã được cải cách mạnh mẽ theo hướng 3D (Decentralization=Tự chủ hóa; Depoliticization=Phi Chính trị hóa; Diversity=Đa dạng hóa), và 3C (Commercialization=Thương mại hóa; Competition=Cạnh tranh; Cooperation=Hợp tác).Kết quả là các trường đại học phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Số lượng trường đại học tư tăng từ số 0 năm 1985 lên 1.300 năm 2000. Các trường đại học gia tăng nhanh số lượng bài nghiên cứu, sáng chế, phát minh và đặc biệt bám sát nhu cầu ứng dụng và đòi hỏi của thị trường; thu nhập từ các doanh nghiệp khoa học-kỹ thuật của 13 đại học đầu đàn đạt trên 7 tỷ USD năm 2004 (3). Thêm nữa, hai đại học Bắc Kinh và Thanh Hoa của Trung Quốc được xếp vào các đại học hàng đầu thế giới (4).

Thứ hai, Việt Nam đang đứng trước những vấn đề đáng lo ngại về chất lượng hệ thống y tế và nếp sống lành mạnh. Chẳng hạn, số lượng các bà mẹ bị tử vong khi sinh con (tính trên 100.000 lần sinh) tăng từ 95 năm 1995 lên 130 năm 2004; trong khi chỉ số này của Trung Quốc giảm từ 60 xuống 56. Về chỉ số người nhiễm HIV trên 1.000 dân, Việt Nam đang ở trong xu thế tăng và chỉ số này của Việt Nam vào năm 2005 cao gấp 6,3 lần so với Trung Quốc, 12 lần so với Hàn Quốc, và 24 lần so với Nhật Bản. Số lượng người chết vị bệnh AIDS ở Việt Nam tăng từ lên 8.900 năm 2003 lên 13.000 năm 2005, gấp hàng chục lần Nhật Bản hay Hàn Quốc (5).

Thứ ba, là về an toà
n cá
nhân. Mức tai nạn giao thông cao, bạo lực, và trộm cắp, trấn lột, lừa đảo đang trở thành vấn nạn ở Việt Nam. Chỉ số tai nạn giao thông đường bộ (tính trên 100.000 dân) của Việt Nam cao hơn và tăng nhanh hơn Trung Quốc. Chỉ số này của Việt Nam so với Trung Quốc cao gấp 1,3 lần vào năm 1998 và 1,7 lần vào năm 2003 (6)
. Theo thống kê này, nếu chỉ số tai nạn giao thông của Việt Nam giữ được ở mức của Trung Quốc, thì mỗi năm, hàng nghìn đồng bào ta (năm 2003 là 5.000 người) sẽ tránh được cái chết oan khốc này.

Về thiết chế vĩ mô

Ngân hàng thế giới, trên cơ sở nhiều nguồn tài liệu khảo sát, đưa ra đánh giá thường kỳ chỉ số chất lượng thiết chế vĩ mô của mỗi nước trong so sánh toàn cầu (7). Lược đồ 2 chỉ ra Việt Nam trong so sánh với Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, và Singapore trên một số chỉ số chủ yếu của chất lượng thiết chế vĩ mô: “Ổn định chính trị”, “Chất lượng chính sách”, “Hiệu lực Chính quyền”, và “Kiểm soát tham nhũng”. Con số trên thanh biểu đồ chỉ ra đẳng cấp của mỗi quốc gia theo từng tiêu chí (thể hiện bởi số lượng phần trăm trong tổng số 213 quốc gia và lãnh thổ xếp hạng đứng thấp hơn quốc gia đó trên chỉ số được xem xét).

Lược đồ 2 cho thấy, Việt Nam có vị trí khá cao và lợi thế quan trọng về ổn định chính trị, song chúng ta còn ở vị thế rất yếu trong các tiêu chí khác, đặc biệt là các tiêu chí “ chất lượng chính sách” và “kiểm soát tham nhũng.”

Lược đồ 2: Việt Nam trong so sánh với các nước về trên các tiêu chí về thiết chế vĩ mô


chart2.jpg

Một minh chứng khác liên quan đến hạn chế và tính dễ thỏa mãn của chúng ta trong quản lý. Tổn thất điện so với tổng lượng điện sản xuất của chúng ta ở dừng ở mức khoảng 14% từ năm 2000 đến nay sau khi giảm được mức khá cao trong các năm trước đó (15-20%). Chúng ta dường như không trăn trở phấn đấu để đạt được mức tổn thất thấp như nhiều nước khác. Chẳng hạn như, vào năm 2003, mức tổn thất điện của Trung Quốc là 6,5%, của Thái Lan là 7,3%, của Malaysia là 4,6%, và của Hàn Quốc 3,2%. Nếu ngành điện của ta giảm được tổn thất điện năng xuống mức của Thái Lan (7,3%) hay Trung Quốc (6,5%), chúng ta sẽ có thêm 2-3 tỷ Kw/h mỗi năm, và như vậy sẽ không chỉ tránh được việc cắt điện mà còn thu thêm được trên 100 triệu USD mỗi năm.

Thế mạnh cốt lõi và những điểm yếu dễ tổn thương của dân tộc

Do đặc thù của lịch sử, yếu tố địa lý, và nhân chủng học, mỗi dân tộc trong quá trình phát triển của mình đều hình thành nên những thế mạnh cốt lõi và những điểm yếu dễ tổn thương.

Thế mạnh cốt lõi của một dân tộc có ba đặc trưng chính (8): thứ nhất, nó giúp tạo nên giá trị; thứ hai, nó có thể áp dụng trong khắp mọi ngành nghề; và thứ ba, người dân coi nó như một thuộc tính tự nhiên và cảm thấy phấn khích khi nó được khơi dậy và phát huy.

Những điểm yếu dễ tổn thương của một dân tộc thể hiện ở ba điểm: thứ nhất, nó gây tổn thất cho sức phát triển của dân tộc; thứ hai, nó rất dễ trỗi dậy và bùng phát khi có cơ chế thuận lợi; và thứ ba, người dân coi nó như một thuộc tính tự nhiên và có thể mất đi cảm xúc bị dằn vặt khi phải sống chung với nó.

Một trong những đặc thù quyết định đặc tính người Việt Nam có liên quan lịch sử hàng nghìn năm đan xen giữa những năm tháng chịu nhẫn nhục với sự khôn khéo linh hoạt để tồn tại dưới ách thống trị của ngoại bang và ý chí quật khởi, sẵn sàng chấp nhận hy sinh để giành và giữ độc lập.

Về địa lý, Việt Nam có thế mạnh cốt lõi về vị trí chiến lược và sự đa dạng và khá thuận hòa của khí hậu.

Về đặc tính con người, như đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu, thế mạnh cốt lõi của Việt Nam nổi bật ở lòng yêu nước và tinh thần quật khởi, đặc biệt trong những tình thế s ống còn của dân tộc; ở trí thông minh và sự năng động, ở sự coi trọng đặc biệt việc đầu tư vào giáo dục; và ở tính vị tha, chu đáo, và tinh tế.

Các điểm yếu dễ tổn thương của Việt Nam có lẽ cũng nằm ở đặc tính dân tộc. Thứ nhất đó là ở tính thiếu duy lý, dễ ảo tưởng (có lẽ do quá nhiều năm phải mơ tưởng đến ngày thoát khỏi ách đô hộ và thiếu cơ hội trải nghiệm qua những qui luật khắt khe và sòng phẳng của kinh tế thị trường); thứ hai, đó là tính coi thường nguyên tắc, không ngại nói dối hoặc làm sai nguyên tắc để được việc (có lẽ do phải tìm cách tồn tại được dưới sự thống trị và kiểm soát hà khắc quá lâu); và thứ ba, đó là tính dễ thỏa mãn, thích phô trương, hưởng lạc khi có điều kiện.

Thực tế phát triển chỉ ra rằng, một dân tộc có thể làm nên những kỳ tích phi thường khi thế mạnh cốt lõi của họ được khơi dậy và phát huy; song dân tộc đó cũng có thể rơi vào tình trạng trì trệ, sa sút khi những điểm yếu dễ tổn thương của họ có cơ hội bùng phát.

Sự nổi lên đặc sắc của một số công ty trên thị trường chứng khoán vừa qua một phần là nhờ các công ty này đã biết bật lên trên nhờ tựa trên thế mạnh cốt lõi của đất nước. Chẳng hạn như FPT (phần mềm) nhờ vào khai thác trí tuệ người Việt; Minh Phú (Thủy sản) nhờ vào tính chu đáo và tinh tế trong bán hàng và lợi thế địa lý của nước ta trong sản xuất nông sản. Tân Tạo nhờ vào tính linh hoạt trong nắm bắt thời cơ và lợi thế vị trí địa lý.

Theo một cách nhìn về chiến lược kinh doanh, thế mạnh cốt lõi của dân tộc Viêt Nam khi được khơi dậy và phát huy sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho các công ty Việt Nam có sức cạnh tranh quốc
t

(1) Một bài báo cực hay, nhưng chắc 1 điều là hiếm ai đọc hết :((

Đột phá từ triết lý phát triển

“Nếu nước ta không có nỗ lực đột phá, thì cho dù bối cảnh phát triển trong mấy thập kỷ tới vẫn tiếp tục thuận lợi như hiện nay, Việt Nam sẽ vẫn ở mức phát triển thấp so với khu vực và thế giới. Và như vậy, vào năm 2045, khi kỷ niệm 100 năm Quốc khánh và 70 năm ngày thống nhất đất nước, Việt Nam vẫn chưa thoát hẳn cảnh nghèo nàn lạc hậu (giống như Mexico, Malaysia, hay Thái lan hiện nay); đồng thời họ sẽ phải chịu thêm mặc cảm tủi nhục vì vị thế thấp kém của đất nước so với Trung Quốc và các nước phát triển, cùng sự xót xa, nuối tiếc về những cơ hội vô giá mà thế hệ hôm nay đã bỏ qua”.


anhchandung.jpg
Tiến sỹ Vũ Minh Khương – Giảng viên trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore

Đây là phân tích của tiến sỹ Vũ Minh Khương, người hiện là giảng viên trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Singapore vừa gửi tới VietNamNet.

Với ước mơ và lòng khao khát về một nước Việt Nam không chỉ sớm thoát khỏi nỗi nhục nghèo nàn mà còn vươn dậy mạnh mẽ tới tương lai của một quốc gia hùng cường, tác giả Vũ Minh Khương mong muốn được chia sẻ những trăn trở và suy nghĩ của cá nhân ông liên quan đến triết lý phát triển, khâu then chốt cần đột phá để mở ra một cục diện mới, có sức khai phóng mạnh mẽ cho công cuộc phát triển của nước ta.

Bài 1: Yêu cầu khẩn thiết của đột phá

Công cuộc đổi mới ở nước ta đã đem lại những thành quả rất đáng trân trọng: tốc độ tăng trưởng GDP trong 16 năm qua (1990-2006) xấp xỉ 7,6%/năm (Bảng 1), thuộc loại khá cao so với mức tăng trưởng của khu vực và thế giới. Một không khí lạc quan, say sưa dường như đang lan tràn với sự sôi động của thị trường chứng khoán và triển vọng thu hút nhiều dự án đầu tư mới của nước ngoài.

Bảng 1: Tăng trưởng GDP, 2004-2008

1990-2006

2004

2005

2006

2007*

2008*

Việt nam

7,6%

7,8%

8,4%

8,2%

8,3%

8,5%

Trung quốc

10,1%

10,1%

10,4%

10,7%

10%

9,8%

Campuchia

Thiếu số liệu

10%

13,4%

10,4%

9,5%

9,0%

*Số liệu 2007 và 2008 là dự báo

Thế nhưng, chúng ta cần tỉnh táo phân tích sâu hơn thực trạng và triển vọng tăng trưởng của đất nước để thấy hết trách nhiệm của thế hệ chúng ta hôm nay trong việc đưa nước Việt đến một tương lai mà chúng ta không phải hổ thẹn vào năm 2045, khi thế hệ con cháu chúng ta kỷ niệm 100 năm Quốc khánh và 70 năm ngày thống nhất đất nước.

Bốn lý do được phân tích dưới đây sẽ cho thấy chúng ta đang đứng trước những đòi hỏi khẩn thiết phải đột phá:

1) Thứ nhất, trong so sánh với Trung quốc, chúng ta không chỉ chậm hơn hẳn trong nhịp độ phát triển hiện tại, mà sẽ thấp kém hơn rất nhiều trong vị thế tương lai:

Tốc độ tăng trưởng GDP của chúng ta khá cao nhưng so với Trung Quốc thì thấp hơn hẳn bởi một khoảng cách từ 2 đến 2,5%; trong giai đoạn 1990-2006, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của Việt Nam và Trung Quốc tương ứng là 7,6% và 10,1% (Bảng 1).


hanoi.jpg
Hà Nội – thành phố đang phát triển. Ảnh: Phan Lê Tùng

Sự thua kém về tăng trưởng GDP bình quân đầu người lại càng lớn hơn do tốc độ tăng dân số của Trung Quốc thấp hơn ta; cùng trong giai đoạn 1990-2006, tốc độ tẳng trưởng GDP bình quân đầu người của nước ta là 6,0% trong khi của Trung Quốc là 9,1%.

Động thái tăng trưởng của Việt Nam và Trung Quốc kể từ khi công cuộc cải cách phát huy hiệu lực ở mỗi nước (năm 1990 với Việt Nam, năm 1980 với Trung Quốc) cho thấy tăng trưởng GDP 7,6% của Việt Nam giai đoạn 1990-2006 khá giống với các nước Đông Nam Á trong thời kỳ 20 năm, 1975-1995 (Thái Lan: 8,1%; Malaysia: 7,5%; Inđônêsia: 7,1%), trong khi của Trung Quốc (tăng trưởng GDP đạt 9,8% trong giai đoạn 1980-2006) tương tự và có phần trội vượt hơn các con rồng châu Á trong thời kỳ 30 năm, 1965-1995 (Singapore: 9,0%; Hàn Quốc: 8,4%).

Hơn nữa, Trung Quốc đã có hàng chục năm đạt tốc độ tăng trưởng GDP ở mức trên 10% (dấu hiệu của nền kinh tế cất cánh), trong khi tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ đạt tới mức cao nhất của mình là 9,5% vào năm 1995.

Kết quả là, khoảng cách thu nhập bình quân đầu người giữa nước ta và Trung Quốc mỗi ngày một cách xa. Nếu vào năm 1976, khi nước ta mới thống nhất, mức thu nhập bình quân đầu người của hai nước xấp xỉ bằng nhau (khoảng 140 USD), thì đến năm 2006, mức thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc (1.589USD) đã gấp gần ba lần nước ta (578USD).

Với giả định lạc quan rằng công cuộc phát triển của cả hai nước vẫn tiếp tục thuận lợi như trong mấy thập kỷ qua, điều mà chúng ta đều mong muốn. Thế thì, điều gì sẽ xảy ra vào năm 2045 nếu Việt Nam không có nỗ lực đột phá để vượt lên.

Phân tích dưới đây theo hai tình huống lạc quan A và B cho thấy, vị thế của Việt Nam vào năm 2045 so với Trung Quốc sẽ vô cùng thấp kém.

chart1a.jpg

Tình huống A-SIÊU LẠC QUAN

(Lược đồ 1A) giả định rằng trong 40 năm tới, cả hai nước tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người như đã
đ
ạt được kể từ khi công cuộc cải cách kinh tế ở mỗi nước bắt đầu phát huy hiệu lực. Nghĩa là, từ năm 2007 đến 2045, Việt Nam sẽ liên tục đạt mức tăng trưởng GDP bình quân đầu người 6,0% (như trong giai đoạn 1990-2006) trong khi tốc độ này của Trung Quốc là 8,6% (như trong giai đoạn 1980-2006).

Theo Tình huống này, vào năm 2045, mức thu nhập GDP bình quân đầu người của Việt Nam vào khoảng 5.600 USD, thấp hơn so với mức hiện nay của Mexico (6.200 USD), trong khi của Trung Quốc vào khoảng 39.600 USD (xấp xỉ mức hiện nay của Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Tuy nhiên, đây là giả định siêu lạc quan, ít hiện thực cho cả hai nước vì theo qui luật hội tụ, tốc độ tăng trưởng của mỗi quốc gia có thiên hướng giảm khi mức thu nhập bình quân đầu người ngày càng cao lên.

Tình huống B-LẠC QUAN HIỆN THỰC (Lược đồ 1B) giả định rằng trong 10 năm tới (2007-2016), cả hai nước tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người đã đạt được trong thời kỳ cải cách của mình (Việt Nam: 6,0%; Trung Quốc: 8,6%); sau đó, trong 29 năm tiếp theo (2017-2045), tăng trưởng GDP bình quân đầu người của hai nước chậm lại: Việt Nam theo mô hình của Thái Lan giai đoạn 1975-2005 với mức tăng 4,7%/năm; Trung Quốc theo mô hình của Hàn Quốc cùng trong giai đoạn 1975-2005 này, với mức tăng 5,7%/năm.


chart1b.jpg

Theo Tình huống này, vào năm 2045, mức thu nhập GDP bình quân đầu người của Việt Nam vào khoảng 3.900 USD, thấp hơn mức hiện nay của Malaysia (4.400 USD); trong khi đó, mức thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc sẽ vào khoảng 18.100 USD, cao hơn mức hiện nay của Hàn Quốc (13.500 USD) và gần bằng mức hiện nay của Italia (19.500 USD). Giả định này vẫn là rất lạc quan cho cả hai nước, đặc biệt với Việt Nam, tuy nhiên, tính hiện thực khá cao. Trong một tình huống kém lạc quan hơn, (không trình bày ở đây), vào năm 2045, Việt Nam đạt được trình độ phát triển hiện nay của Thái Lan, trong khi Trung Quốc ở mức hiện nay của Hàn Quốc.

Các tình huống trên đây cho thấy, nếu nước ta không có nỗ lực đột phá, thì cho dù bối cảnh phát triển trong mấy thập kỷ tới vẫn tiếp tục thuận lợi như hiện nay, Việt Nam sẽ vẫn ở mức phát triển thấp so với khu vưc và thế giới, trong khi Trung Quốc sẽ tiến rất xa và trở thành một nước công nghiệp phát triển. Và như vậy, vào năm 2045, khi kỷ niệm 100 năm thành lập nước và 70 năm ngày thống nhất đất nước, Việt Nam vẫn chưa thoát hẳn cảnh nghèo nàn lạc hậu (giống như Mexico, Malaysia, hay Thái lan hiện nay); đồng thời họ sẽ phải chịu thêm mặc cảm tủi nhục vì vị thế thấp kém của đất nước so với Trung Quốc và các nước phát triển, cùng sự xót xa, nuối tiếc về những cơ hội vô giá mà thế hệ hôm nay đã bỏ qua.

Thứ hai, những dân tộc tương đồng với chúng ta đang có những nỗ lực vượt lên

Chỉ xin nêu hai ví dụ gần gũi, có tính điển hình: Hàn Quốc và Campuchia.

Hàn Quốc tiêu biểu về khát vọng và nỗ lực vươn lên của một dân tộc từ nghèo khó, chiến tranh, thậm chí chết đói vào những năm 1950. Chính phủ Hàn Quốc hoạch định rất rõ các bước đi để đất nước này trở thành thành viên khối các nước công nghiệp phát triển OECD vào năm 1996 (trong vòng chưa đầy 40 năm kể từ khi khởi đầu công cuộc công nghiệp hóa). Và hiện nay, họ đang quyết liệt thực hiện chiến lược cường quốc nhằm đạt trình độ khoa học công nghệ của 7 cường quốc hàng đầu thế giới (G7) vào năm 2025. Đặc biệt đáng chú ý là, chính phủ và các công ty Hàn Quốc hết sức chú trọng xây dựng những yếu tố nền tảng của một xã hội dân chủ, trong đó người dân không còn mặc cảm, thụ động mà trở thành chủ nhân với ý thức công dân và niềm tin ngày càng sâu sắc vào sự công bằng và minh bạch của thiết chế xã hội.

Campuchia là một dẫn chứng về một nước láng giềng chịu những thiệt thòi và mất mát to lớn do chiến tranh và diệt chủng nhưng đã bắt đầu vươn lên sống động trên nền tảng của một xã hội với thiết chế hiện đại, tuy còn non nớt. Bảng 1 với số liệu của Ngân hàng phát triển châu Á cho thấy, tăng trưởng GDP của Campuchia trong ba năm qua và dự kiến cho hai năm tới vượt hơn hẳn Việt Nam.

Thứ ba, đó là sự đòi hỏi bởi qui luật thép của phát triển

Vận động phát triển của một xã hội chịu sự tác động của một qui luật thép liên quan đến tiến triển về thứ bậc nhu cầu của cá nhân con người theo mô hình Maslow, do nhà Tâm lý học nổi tiếng Abrham Maslow đưa ra năm 1946.

Mô hình này, trong một sự khái quát có tính tương đối, chỉ ra ràng nhu cầu của mỗi con người ta gia tăng từ thấp đến cao theo năm thứ bậc chính. Ở thang bậc thấp nhất là Nhu cầu Sinh tồn (có tính vật chất như ăn, uống, sinh hoạt); Ở thang bậc thứ hai là Nhu cầu An toàn (như an ninh, sức khỏe, nguồn thu nhập); thang bậc thứ ba là Nhu cầu Yêu thương (hạnh phúc gia đình, tình bạn); thang bậc thứ tư là Nhu cầu Trân trọng (được tin tưởng, trân trọng bởi bè bạn, đồng nghiệp về thành tích-đóng góp, được hãnh diện về đất nước, đồng bào); và thang bậc thứ năm, cao nhất, đó là Nhu cầu Lý tưởng ( theo đuổi khát vọng, sáng tạo, đức hạnh, chân lý).

Theo mô hình này, với đại đa số, con người ta sẽ bước lên nhu cầu ở thang bậc cao hơn khi và chỉ khi các nhu cầu ở bậc thấp hơn đã được thỏa mãn. Trong những tình huống đặc biệt (như chiến tranh, cách mạng, con người ta có thể tạm hy sinh các
nhu cầu thấp và có ngay các nhu cầu ở thang bậc cao nhất trong hy vọng sẽ được thỏa mãn nhu cầu thấp hơn trong ngày mai chiến thắng).

Người dân nước ta sau nhiều thập kỷ mất mát và đói khổ do hậu quả của chiến tranh và cơ chế quản lý quan liêu bao cấp, đã bùng phát nhu cầu ở thang bậc thấp nhất khi đất nước hòa bình và nền kinh tế khởi sắc. Với đà phát triển của nền kinh tế, một bộ phận lớn dân chúng hiện nay đã thỏa mãn được nhu cầu ở bậc thấp (Sinh tồn, An toàn) và đang bước lên các nhu cầu cao (Yêu thương, Trân trọng, và Lý tưởng).

Thế nhưng, xu thế dịch chuyển lên thang bậc nhu cầu cao hơn có thể bị chậm lại nếu môi trường làm ăn không thật minh bạch, ổn định hoặc hoặc xã hội bị cuốn hút vào các nhu cầu vật chất thấp kém có tính hưởng lạc và dục vọng do sự sa sút của nền tảng đạo đức xã hội.

Một khi xu thế dịch chuyển lên các nhu cầu cao được đẩy nhanh, người dân sẽ có đòi hỏi rất bức bách về các nhu cầu cao hơn. Ở thang bậc thứ ba, đó là sự quan tâm với tinh thần trách nhiệm của bộ máy công quyền và lòng thấu cảm của những người được bầu chọn làm đại diện nhân dân; Ở thang bậc thứ tư, đó là sự cao quí trong tiêu chí đánh giá và thái độ trân trọng của xã hội với tài năng và công lao đóng góp của mỗi người; Ở thang bậc thứ năm, cao nhất, đó là môi trường tự do phấn khích cho mọi người được sáng tạo, ước mơ, và theo đuổi hoài bão và lý tưởng của mình.

Nếu không có đột phá, hệ thống chính trị của chúng ta sẽ chỉ có thể tồn tại nhờ vào cố gắng làm chậm lại xu thế dịch chuyển lên nhu cầu cao hơn của xã hội bằng cách chấp nhận để xã hội bị kìm chế ở các nhu cầu thấp, đặc biệt là sự cuốn hút vào các nhu cầu vật chất tầm thường trong sự hoành hành của nạn tham nhũng và tha hóa.

Đột phá sẽ đẩy nhanh sự vận động đi lên của xã hội, và đó sẽ là động lực, không chỉ đưa đất nước thoát ra khỏi quốc nạn tham nhũng thoái hóa đạo đức mà còn đặt nền tảng khai phóng mạnh mẽ cho công cuộc phát triển của nước ta trong những thời gian tới.

Thứ tư, chỉ có đột phá quyết liệt, Việt Nam mới có hy vọng trở thành một nước công nghiệp và đuổi kịp Trung Quốc về mức thu nhập vào năm 2045


Giả định rằng, Trung Quốc sẽ phát triển theo Tình huống LẠC QUAN HIỆN THỰC như phân tích ở trên trong Lược đồ 1B. Theo tình huống này, vào năm 2045, Trung Quốc sẽ trở thành một nước công nghiệp với mức thu nhập bình quân đầu người gần bằng Italia hiện nay. Đây có lẽ cũng chính là khát vọng của người Việt Nam khi chúng ta hướng tới năm 2045.

Trong tình huống này, để vượt lên và bắt kịp Trung Quốc vào năm 2045, tăng trưởng của nền kinh tế nước ta phải có những bước tiến vượt bậc: đạt mức tăng GDP bình quân đầu người với tốc độ 7,0% trong ba năm 2007-2009 (thời gian chuẩn bị), rồi tăng lên mức 9,5% cho suốt giai đoạn 36 năm (2010-2045). Như vậy, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của nước ta cho cả giai đoạn 39 năm, 2007-2045 phải đạt mức 9,1%, xấp xỉ kỷ lục của Singapore giai đoạn 1965-1995 và của Trung Quốc giai đoạn1990-2006.

Điều này sẽ chỉ có thể xảy ra nếu Việt Nam có những bước phát triển đột phá.

Đột phá rõ ràng đã trở thành một yêu cầu khẩn thiết cho sự nghiệp phát triển nước ta. Thế nhưng, đột phá không bắt đầu từ cố gắng sửa đổi một vài thủ tục hành chính, hay biện pháp đốc thúc quyết liệt một số dự án trọng điểm, mà phả i khởi đầu từ TRIẾT LÝ PHÁT TRIỂN.

“Sống thử”, websex và…thụ động?

Hãy đọc bài này đi bạn, hãy nhìn lại mình xem mình là ai ??

Tình trạng “sống thử” được coi là biểu hiện đáng lo ngại thứ hai trong đời sống văn hóa của SV, chỉ xếp sau “không chịu học hành, xin điểm, quay cóp”. Hơn 30% SV cho biết đã từng vào các trang web sex. Có tới 60% SV lựa chọn lối sống thụ động.

Đây là kết quả từ khảo sát về đời sống văn hóa SV do Ban Tư tưởng Văn hóa TW, Bộ GD-ĐT và Văn phòng Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” của Bộ VHTT phối hợp thực hiện năm 2006 tại 30 trường CĐ, ĐH và TCCN trên toàn quốc.

Khảo sát này được giới thiệu tại hội thảo “Đời sống văn hóa SV: Thực trạng và giải pháp” tổ chức sáng 19/4.

“Sống thử” để… tiết kiệm

Thực tế, hiện nay, SV rất thiếu nơi giao lưu, tâm tình, trong khi lại đang ở độ tuổi phát triển tâm sinh lý, nhu cầu giao lưu tình cảm lớn.

Thế là các gốc cây, ghế đá, vườn hoa của trường, của ký túc xá được “tận dụng triệt để” trở thành “chốn hai người” rất mất mỹ quan và ảnh hưởng môi trường sư phạm.

Vụ việc xảy ra bên hồ Thành Công khi Huyền Trang, SV năm thứ nhất của ĐH Văn hóa Nghệ thuật Quân đội bị đâm chết khi đang ngồi tâm tình với bạn trai là một dẫn chứng đau lòng về hậu quả của việc thiếu những địa điểm lành mạnh cho SV giao lưu, tâm tình.

Trong bản kết luận này Nhận thức về tình yêu của SV nói riêng và thanh niên nói chung cũng đã có những thay đổi theo chiều hướng “tình yêu đến em không mong đợi gì, tình yêu đi em không hề hối tiếc.”

Theo một khảo sát của Viện Khoa học xã hội TP.HCM và TW Đoàn TNCS HCM tại 5 trường ĐH tại TP.HCM và 3 trường ĐH tại Hà Nội, chỉ có khoảng 28,9% SV kiên quyết phản đối quan hệ tình dục trước hôn nhân. Số còn lại chấp nhận, coi đó là việc bình thường hoặc đánh giá đó là việc không tốt nhưng cũng không phản đối.

Một trong các lý do phổ biến được SV đưa ra để giải thích cho việc “góp gạo thổi cơm chung” là “mỗi người ở một nơi thì tốn kém quá, chi bằng 2 người chung 1 phòng”.

Mức sinh hoạt phí và tiền thuê nhà ở các thành phố lớn tương đối cao như hiện nay khiến không ít cặp SV chọn giải pháp “tiết kiệm” như vậy.

3 lối sống: Thụ động, tích cực, sành điệu

Từ phân tích, khái quát các đặc điểm đặc trưng lối sống của các nhóm SV tham gia trong cuộc khảo sát của Viện Khoa học Xã hội và TW Đoàn TNCS HCM, các nhà nghiên cứu xác định có 3 kiểu sống khá rõ nét trong SV.

Kiểu thứ nhất chiếm khoảng 30% là những SV say mê học tập, đồng thời tích cực tham gia các sinh hoạt tập thể, chính trị-xã hội, văn hóa tinh thần, thể hiện một lối sống năng động, tích cực, hướng tới sự phát triển toàn diện.

Kiểu thứ hai gồm những SV lựa chọn hoạt động học tập và quan hệ gia đình, bạn bè thân trong phạm vi hẹp, ít tham gia vào các sinh hoạt tập thể, hoạt động chính trị-xã hội và văn hóa thể thao chung. Nhóm này thể hiện một lối sống thụ động, chiếm tới 60% SV tham gia khảo sát.

Cũng cần nhìn nhận rằng, có thể trong nhóm này có một số nhân tố tích cực, nhưng vì những lý do khách quan mà họ không thể tham gia các hoạt động tập thể.

Ông Nguyễn Văn Luật (Trưởng phòng Công tác chính trị SV, HV Báo chí và Tuyên truyền) cho biết: “Trong những năm qua, chỉ mới có 1/5 số SV của trường tham gia các họat động tình nguyện của trường. Số còn lại không phải không muốn tham gia mà không có điều kiện.”

Sự thiếu thốn, nghèo nàn về cơ sở vật chất cũng là một lý do khiến nhiều SV rơi vào nhóm “thụ động”.

Khảo sát 30 trường ĐH, CĐ và TCCN cho thấy cơ sở vật chất giúp SV tham gia và hưởng thụ các họat động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao còn thiếu thốn, nhiều trường thiếu khu giáo dục thể chất, địa điểm sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí.

10% còn lại thuộc kiểu thứ 3 là những SV rất tích cực và hứng thú tham gia những hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ những thú vui của tuổi trẻ và thể hiện lối sống tiêu dùng hiện đại, sành điệu. Phần lớn trong số đó mải mê theo đuổi những hoạt đông khác mà xa rời, xao lãng học tập.

PGS.TS Đặng Nguyên Anh (Viện Khoa học Xã hội VN) nhận định: “Có thể nhận thấy, điều mà giới trẻ nói chung và SV nói riêng đang thiếu hiện nay là một tinh thần khai sáng, một phương pháp học để sống, để hoàn thiện mình. Nhạy bén, sáng tạo, bản lĩnh, có khả năng giao tiếp là những kỹ năng còn rất thiếu đối với thanh thiếu niên. Sự thiếu hụt này là hệ quả của một hệ thống giáo dục không dành thời gian rèn luyện kỹ năng sống – một phương thức phát triển thanh niên từ chiều cạnh văn hóa – giáo dục.”

30% SV từng vào web sex

Qua khảo sát, tới hơn 30% SV cho biết đã từng vào các trang web sex.

16,6% SV không thấy được tác hại của việc sử dụng internet vào những mục đích không lành mạnh như xem phim sex, đọc thông tin “rác”. Còn lại, phần lớn SV đã nhận thức được rằng sử dụng internet không đúng mục đích gây tác hại rất lớn.

Hoàng Thị Hồng Minh (K24, HV Báo chí và Tuyên truyền) tâm sự: “Internet đã cung cấp một lượng thông tin “bão hòa” cho giới trẻ.
“Bão hòa” ở đây là SV có thể kiếm bất cứ thông tin tốt, xấu, thật, giả… Nó khác với những thông tin được truyền đạt từ nhà trường, gia đình… được xử lý qua một lăng kính khác. Chính vì vậy, lớp trẻ chúng em rất dễ đánh mất niềm tin vào cuộc sống.”

Theo khảo sát, đa số SV dùng internet để tìm kiếm thông tin, phân nửa dùng để chat hoặc email, khoảng 35% chơi game và 20% kết bạn qua mạng.

Phan Hải Linh (Chủ tịch Hội SV ĐH Bách khoa Hà Nội) coi game online là một trong ba “hiện tượng đáng báo động” ở giới SV.

Hải Linh nhận định: “Không thể cấm SV chơi game online vì kể cả khi khóa toàn bộ nhà cung cấp game của VN, SV sẽ chuyển sang chơi trên server quốc tế. Như vậy càng khó kiểm soát. Nếu không thể cấm thì các cơ quan hữu quan nên có nhiều hơn sự định hướng trong việc chơi game.”

GS Nghiêm Đình Vỳ (Phó Ban khoa giáo TW) đã nhận định: “Cần chuẩn bị hướng tới một phương pháp giáo dục mới, trong đó internet đóng vai trò chủ đạo để cho ra đời “một thế hệ cử nhân trưởng thành trên mạng”.

Dù online thường xuyên nhưng nhiề
u cử nhân tương lại lại “mù thông tin